Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI.

LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI. Lịch sử loài người từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước, gắn liền với nó thì quân đội được tổ chức để bảo vệ giai cấp và nhà nước đó và tất yếu quân đội mang bản chất giai cấp. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. Lịch sử ra đời và phát triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập và càng không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I. Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước nào, giai cấp cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế của mình. Lịch sử đã chứng kiến hàng nghìn vụ đảo chính trên thế giới từ xưa đến nay và có những giai đoạn, đảo chính quân sự xảy ra như cơm bữa ở châu Phi. Chỉ tính riêng ở Thái Lan, trong hơn 70 năm qua, quân đội đã thực hiện 19 lần đảo chính và âm mưu đảo chính. Trong khoảng hơn một thập kỷ, từ cuối những năm của thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 (1990 - 2003), quân đội Mỹ và đồng minh đã tiến hành bốn cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại các nước độc lập có chủ quyền, bất chấp dư luận, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc (chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991; chiến tranh Nam Tư 1999; chiến tranh Apganixtan 2001 và chiến tranh Irắc 2003). Gần đây là việc quân đội Mỹ và NATO tiến hành các cuộc chiến tranh hoặc can thiệp quân sự ở Trung Đông - Bắc Phi nhằm lật đổ các chế độ “cứng đầu” và thiết lập chế độ mới theo Mỹ và phương Tây. Vậy sao lại cho rằng quân đội “trung lập về chính trị” hoặc “không can thiệp về chính trị”! Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng ta và Bác Hồ kính yêu sáng lập và rèn luyện để giành và giữ chính quyền cách mạng, nên quân đội ta là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Quân đội ta là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Gần 71 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC.

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta, như: lập ra “Chính phủ Đề-ga” lưu vong, “Chính phủ Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly khai dân tộc, đòi thành lập các khu tự trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, sử dụng các phần tử xấu trong các dân tộc và tôn giáo chống lại cách mạng. Hầu hết những cuộc gây rối, bạo loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vừa qua đều gắn với vấn đề tôn giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện tập hợp lực lượng để chống chính quyền. Đáng lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mới mang nặng mê tín dị đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa bản địa và có ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, như: hoạt động của nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,...
 Một bộ phận chức sắc tôn giáo và giáo dân có tư tưởng cực đoan, bị các thế lực thù địch, bọn phản động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước cấu kết thực hiện âm mưu dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện, kích động họ tham gia biểu tình chống chính quyền; gắn tôn giáo ở Việt Nam với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo và chúng cho rằng Việt Nam có tình trạng đàn áp và bắt bỏ tù những người hoạt động đấu tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, v.v.
Dựa trên những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn sai lệch, định kiến của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận điệu không mới nêu trên là những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật Việt Nam và Luật pháp quốc tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân quyền” của thế giới. Việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được đặt trong tương quan hài hòa với những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc giữ vững an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc. Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có quyền tự do "quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa" như Phần mở đầu Công ước về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (Khoản 1, Ðiều 1) khẳng định. Bảo đảm quyền con người trở thành lý tưởng chung mà các quốc gia, dân tộc cần đạt tới và là nền tảng của tự do, công lý, hòa bình trên thế giới và Hiến pháp năm 2013 (Điều 24) khẳng định rõ: “Mọi người có quyền tự do ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Từ những quan điểm, chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật trên, có thể khẳng định quyền tự do ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Đảng, Nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ; từ đó, đã làm thay đổi căn bản đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Về sinh hoạt tôn giáo: tín đồ các tôn giáo sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Một số sinh hoạt tôn giáo, nhất là những tôn giáo có phạm vi địa phương trước đây không thực hiện được, những năm gần đây đều được hoạt động; các hoạt động ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng hiến chương, điều lệ tổ chức, bảo đảm tuân thủ pháp luật. Chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào theo các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; hướng dẫn, động viên tín đồ tích cực tham gia hoạt động xã hội, từ thiện, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”,hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, qua đó mở rộng uy tín, ảnh hưởng của tôn giáo mình. Về tổ chức tôn giáo: trước năm 1986, chỉ có 03 tổ chức, đến nay đã có 37 tổ chức và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Về việc mở trường đào tạo chức sắc: trước đổi mới, chỉ có một số lớp của Phật giáo, Công giáo. Hiện nay, riêng Phật giáo có 04 học viện, 08 trường cao đẳng, 32 trường trung cấp; Công giáo có 07 Đại chủng viện và 01 phân hiệu; Tin lành có 02 Viện Thánh kinh thần học và Học viện Thần học,… Về xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự: trước đổi mới, hầu như không có hoạt động này. Hiện nay, hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn giáo (hơn 20.000 cơ sở - chiếm 80%) được sửa chữa, trong đó 1/3 được trùng tu sửa chữa quy mô lớn, đồng thời có khoảng 2.000 cơ sở thờ tự được xây mới. 
Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng thế giới, Việt Nam luôn chia sẻ, tôn trọng các yêu cầu và cam kết quốc tế về nhân quyền nói trên. Thực tế lịch sử Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tổ chức tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giành lại nền độc lập dân tộc, và ngày nay đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ thực tế về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam chúng ta bác bỏ hoàn toàn những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam, thông qua chiến lược “Diễn biến hoà bình” đã lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá Đảng và Nhà nước ta, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” theo kiểu phương Tây nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các cơ quan chức năng, nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp cần phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động thông tin, hướng dẫn, tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong và ngoài nước hiểu và thực hiện đúng chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, loại bỏ những cách nhìn thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, góp phần tăng cường củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh của đất nước, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.