Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015
LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI.
LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI.
Lịch sử loài người từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước, gắn liền với nó thì quân đội được tổ chức để bảo vệ giai cấp và nhà nước đó và tất yếu quân đội mang bản chất giai cấp. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. Lịch sử ra đời và phát triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập và càng không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I. Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”.
Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước nào, giai cấp cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế của mình. Lịch sử đã chứng kiến hàng nghìn vụ đảo chính trên thế giới từ xưa đến nay và có những giai đoạn, đảo chính quân sự xảy ra như cơm bữa ở châu Phi. Chỉ tính riêng ở Thái Lan, trong hơn 70 năm qua, quân đội đã thực hiện 19 lần đảo chính và âm mưu đảo chính. Trong khoảng hơn một thập kỷ, từ cuối những năm của thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 (1990 - 2003), quân đội Mỹ và đồng minh đã tiến hành bốn cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại các nước độc lập có chủ quyền, bất chấp dư luận, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc (chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991; chiến tranh Nam Tư 1999; chiến tranh Apganixtan 2001 và chiến tranh Irắc 2003). Gần đây là việc quân đội Mỹ và NATO tiến hành các cuộc chiến tranh hoặc can thiệp quân sự ở Trung Đông - Bắc Phi nhằm lật đổ các chế độ “cứng đầu” và thiết lập chế độ mới theo Mỹ và phương Tây. Vậy sao lại cho rằng quân đội “trung lập về chính trị” hoặc “không can thiệp về chính trị”!
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng ta và Bác Hồ kính yêu sáng lập và rèn luyện để giành và giữ chính quyền cách mạng, nên quân đội ta là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Quân đội ta là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Gần 71 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC.
ĐƯỜNG
LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO,
DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh các hoạt
động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta, như: lập ra “Chính phủ Đề-ga”
lưu vong, “Chính phủ Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly khai dân tộc, đòi
thành lập các khu tự trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc lập”
ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc
lập” ở Nam Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, sử dụng các phần tử
xấu trong các dân tộc và tôn giáo chống lại cách mạng. Hầu hết những cuộc gây
rối, bạo loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vừa qua đều gắn với
vấn đề tôn giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện tập hợp lực lượng để chống
chính quyền. Đáng lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mới
mang nặng mê tín dị đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu
số khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa bản
địa và có ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội,
như: hoạt động của nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,...
Một bộ phận chức sắc
tôn giáo và giáo dân có tư tưởng cực đoan, bị các thế lực thù địch, bọn phản
động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước cấu
kết thực hiện âm mưu dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện, kích động họ tham
gia biểu tình chống chính quyền; gắn tôn giáo ở Việt Nam với vấn đề “dân chủ”,
“nhân quyền” và ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vu cáo Việt Nam
không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo và chúng cho rằng Việt
Nam có tình trạng đàn áp và bắt bỏ tù những người hoạt động đấu tranh cho tự do
tôn giáo, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, v.v.
Dựa trên những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn
sai lệch, định kiến của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận
điệu không mới nêu trên là những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật
Việt Nam và Luật pháp quốc tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong
việc thực hiện đầy đủ các quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân
quyền” của thế giới. Việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được
đặt trong tương quan hài hòa với những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc,
kết hợp với việc giữ vững an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc. Cũng như mọi dân
tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có quyền tự do "quyết
định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa" như Phần mở đầu Công ước về các quyền dân sự và chính trị
của Liên hợp quốc (Khoản 1, Ðiều 1) khẳng định. Bảo đảm quyền con người trở
thành lý tưởng chung mà các quốc gia, dân tộc cần đạt tới và là nền tảng của tự
do, công lý, hòa bình trên thế giới và Hiến pháp năm 2013 (Điều 24) khẳng định rõ: “Mọi người có
quyền tự do ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn
giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do ngưỡng,
tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng ngưỡng,
tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Từ những quan điểm, chính sách và hệ thống các văn bản pháp
luật trên, có thể khẳng định quyền tự do ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Đảng,
Nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ; từ đó, đã làm thay đổi căn bản đời
sống tôn giáo ở Việt Nam. Về sinh hoạt tôn giáo: tín đồ các tôn
giáo sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền
thống của tôn giáo mình. Một số sinh hoạt tôn giáo, nhất là những tôn giáo có
phạm vi địa phương trước đây không thực hiện được, những năm gần đây đều được
hoạt động; các hoạt động ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng hiến
chương, điều lệ tổ chức, bảo đảm tuân thủ pháp luật. Chính quyền các cấp tạo
điều kiện thuận lợi cho đồng bào theo các tôn giáo “đồng hành cùng dân
tộc”, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; hướng dẫn, động viên tín đồ tích cực tham
gia hoạt động xã hội, từ thiện, thực hiện phương châm sống “tốt đời,
đẹp đạo”,hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, qua đó mở rộng uy tín, ảnh hưởng của
tôn giáo mình. Về tổ chức tôn giáo: trước năm 1986, chỉ có 03 tổ
chức, đến nay đã có 37 tổ chức và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận
và cấp đăng ký hoạt động. Về việc mở trường đào tạo chức sắc: trước
đổi mới, chỉ có một số lớp của Phật giáo, Công giáo. Hiện nay, riêng Phật giáo
có 04 học viện, 08 trường cao đẳng, 32 trường trung cấp; Công giáo có 07 Đại
chủng viện và 01 phân hiệu; Tin lành có 02 Viện Thánh kinh thần học và Học viện
Thần học,… Về xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự: trước đổi mới,
hầu như không có hoạt động này. Hiện nay, hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn
giáo (hơn 20.000 cơ sở - chiếm 80%) được sửa chữa, trong đó 1/3 được trùng tu
sửa chữa quy mô lớn, đồng thời có khoảng 2.000 cơ sở thờ tự được xây mới.
Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng
thế giới, Việt Nam luôn chia sẻ, tôn trọng các yêu cầu và cam kết quốc tế về
nhân quyền nói trên. Thực tế lịch sử Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tổ chức tôn
giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong cuộc
đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giành lại nền độc lập dân tộc, và ngày
nay đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Từ thực tế về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam chúng ta bác
bỏ hoàn toàn những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù
địch với cách mạng Việt Nam, thông qua chiến lược “Diễn biến hoà bình” đã lợi
dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội, chống phá Đảng và Nhà nước ta, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn
giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” theo kiểu phương Tây
nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, trong tình hình hiện
nay, các cơ quan chức năng, nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở
các cấp cần phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động thông
tin, hướng dẫn, tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong và ngoài
nước hiểu và thực hiện đúng chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp thời vạch trần
âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, loại bỏ những
cách nhìn thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, góp phần tăng
cường củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh của đất nước, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015
KHẲNG ĐỊNH
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO DUY NHẤT CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lịch sử lập hiến Việt Nam
đã trải qua những bước ngoặt to lớn cùng với sự ra đời của các bản Hiến pháp
năm 1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến
pháp năm 1992 đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho việc thực hiện
công cuộc đổi mới. Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu đó có vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã lãnh đạo
nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các
cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới,
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, các thế lực thù địch luôn
chĩa mũi nhọn của chúng vào việc chống phá Đảng. Vì vậy, sự thừa nhận vai trò
lãnh đạo của Đảng như trong điều 4 của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để chống lại
sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động
nhân dân chống lại Đảng hòng mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi chế
độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, đất nước ta đã
có nhiều thay đổi, tình hình quốc tế đang có những diễn biến phức tạp và sâu
sắc. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới là
rất cần thiết.
Một trong những nội dung
quan trọng của Chương I (Chế độ chính trị) được xác định trong Dự thảo sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết
định của mình.
3. Các tổ chức
của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu và từ thực tiễn Tôi thấy, vẫn
còn thiếu và chưa đầy đủ, cần thêm và bổ sung một số cụm từ ở Điều 4 sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 như sau:
Một là, Tại Khoản 1, Điều 4, đề
nghị bổ sung thêm cụm từ “duy nhất” vào câu: “ Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”
Hai là, thêm Khoản 2, Điều 4, chỉ rõ mục đích lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam để nhân dân và các tầng lớp xã hội hiểu rõ mục đích lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện
thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Mục đích đó phù
hợp với nguyện vọng, ý chí của quần chúng nhân dân. Đồng thời, chống lại sự
xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch muốn xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba
là, Khoản 2, đưa xuống thành Khoản 3.
Bốn là. Khoản 3, đưa xuống thành Khoản 4.
Cụ thể bổ sung và sửa đổi như sau:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Mục đích
của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công
bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa
xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
3. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết
định của mình .
4. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, 4 Khoản trong Điều 3 đã khẳng định được Đảng là
đội tiên phong của của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, đó là hệ tư tưởng cách mạng khoa học và đã khẳng định rõ Đảng Cộng sản
Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Để thực hiện mục đích của Đảng, là xây dựng nước
Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn
người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ
nghĩa cộng sản. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu
sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định
của mình. Đồng thời, Đảng (các tổ chức của Đảng và đảng viên) phải hoạt động
trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Được khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp, chắc chắn sẽ khuyến khích, động
viên và bảo đảm cho Đảng thực hiện và hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo của
mình.
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH
GIAI CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
Như chúng ta biết, phát hiện ra
vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư
gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã
phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có
công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhaụ Các nhà
sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu
tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu
kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1- Sự tồn
tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định
của sản xuất; 2- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3- Bản
thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và
tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).
Như vậy, Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực
phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động
lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản
nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong
tương lai, khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu
tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với
những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hộị
Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp
của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách
quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp:
Bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu
tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy
cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh
giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như
Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như: Sự phát triển của lực
lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học-kỹ thuật v.v..
Đồng thời, việc nhận thức và giải quyết vấn đề giai
cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch
sử, cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách
mạng. Trước đây khi phân tích so sánh về đấu tranh giai cấp ở các nước phương
Tây và phương Đông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng ở phương Tây, đấu tranh
giai cấp rất quyết liệt, còn ở phương Đông, những nước như "Ấn Độ hay
Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời
Trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như
ở đây"(2). Đối với Việt Nam cũng vậy, vì Việt Nam vốn là một xã hội phương
Đông cổ truyền, nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, phân hóa giai cấp
chưa sâu sắc. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, yêu cầu đoàn kết dân tộc
nổi lên hàng đầu để tập hợp các lực lượng, các giai cấp, các tầng lớp trong xã
hội nhằm thực hiện nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì vậy, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người về đấu tranh giai cấp
ở Việt Nam: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu
giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho
đúng"(3).
Ở đây không được phép lẫn lộn quan điểm khoa học về
đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với quan điểm hữu khuynh phủ nhận
đấu tranh giai cấp hoặc quan điểm tả khuynh cường điệu đấu tranh giai cấp,
thiên về trấn áp bạo lực, hoặc mượn danh đấu tranh giai cấp để đấu tố trấn áp
những người không ăn cánh, không theo đường lối của mình, có tính chất bè phái
như đã từng xảy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đâỵ
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về chuyên chính vô sản và đấu tranh giai
cấp. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm
"hệ thống chính trị" thay cho khái niệm "hệ thống chuyên chính
vô sản". Từ đó về sau, trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh 2011, trong
các văn kiện từ Đại hội VII đến Đại hội XI ít sử dụng thuật ngữ "chuyên
chính vô sản". Đây là một bước tiến của nhận thức, phù hợp hơn với điều
kiện tình hình mớị
Về đấu tranh giai cấp, Đại hội IX của Đảng nhận định,
cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí
của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiềụ Mối quan hệ giữa các giai
cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân,
đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện
nay là thực thiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực
hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục
những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành
động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước
ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
Đại hội IX cũng xác định động lực chủ yếu để phát
triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân
với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân,
tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh
tế toàn xã hộị
Như vậy, Đảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp
trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát
triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của
đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mớị
(1). C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập,
tập 28, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.661-662.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1,
Nxb CTQG, 2011, tr.508, 509.
(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5,
HN, Nxb CTQG, 2011, tr.312.
Chân lý
Gần đây tôi có đọc một số bài đăng
blogger cá nhân, một số người kiến nghị với Đảng ta từ bỏ con đường xây dựng
CNXH, chuyển sang đường lối dân tộc và dân tộc chủ nghĩa. Kiến nghị đòi đa nguyên chính trị, đa đảng
đối lập. Trước hết, với tư cách cá nhân khẳng định rằng con đường tiến lên xây
dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, là nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Bởi vì, năm 1930 trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng đã khẳng định con
đường này, nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân theo Đảng
hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thứ hai, thành tựu Đảng ta lãnh đạo dân
tộc đạt được như ngày hôm nay là rất to lớn: Đánh thắng các thế lực xâm lược
lớn mạnh, bị cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao, nhưng Đảng đã kiên trì
Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ
quốc tế, buộc Mỹ phải bãi bỏ cấm vận kinh tế, bình thường hóa qua hệ với Việt
Nam. Như vậy, Đảng ta lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, đánh
thắng 2 cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ (1945-1975); cuộc chiến tranh
biên giới tây nam 1978, phía bắc năm 1979, xây dựng đất nước đạt được thành tựu
to lớn về mọi mặt. To lớn thể hiện là chúng ta xây dựng đất nước thuận tiện mới
chỉ có từ năm 1995 (sau khi Mỹ bãi bỏ cấm vận), chưa đầy 20 năm, mà thành tựu
đạt được như vậy phải là kỳ tích. Nếu như đất nước không bị xâm lược mà Đảng
lãnh đạo có hàng trăm năm hòa bình để xây dựng đất nước thì thành tựu chắc chắn
to lớn hơn nhiều. Vậy, làm gì phải từ bỏ con đường XHCN, làm gì phải đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập. Một minh chứng còn sống động như nước Ucraina sau
khi tách khỏi Liên bang Xô Viết năm 1991, từ bỏ thể chế XHCN, theo con đường
trung lập nhưng đến nay đất nước khủng hoảng triền miên, lạm phát tăng cao,
xung đột phe phái, nhân dân khổ cực,…điều đó nói nên rằng không phải đa đảng là
tốt. Bởi vậy, thay vì kêu gọi thành lập đảng phái đối lập với Đảng
Cộng sản để được dân chủ hơn, tôi nghĩ các người nên hành động cụ thể,
thiết thực, nghiên cứu đề xuất những ý kiến hay hợp lòng dân ý Đảng để hiện
thực hóa mục tiêu mà Đảng đã đề ra, vì lợi ích dân tộc và nhân dân thì tốt hơn.
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015
Không thể phủ nhận thành tựu lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Không thể
phủ nhận thành tựu lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Lịch sử luôn khách
quan, là hiện thực sống động nhất bác bỏ mọi sự xuyên tạc về vai trò lãnh đạo
của Đảng. Điểm lại lịch sử cách mạng nước ta từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
có thể thấy rõ: trước khi ĐCS Việt Nam ra đời, không cam chịu ách thống trị của
thực dân Pháp, nhân dân cả nước đã liên tục vùng lên đấu tranh dưới các ngọn cờ
lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong kiến, hay lập trường nông dân, tiểu tư sản và
tư sản dân tộc. Đó là các phong trào: Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế,
cuộc vận động Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, các phong trào Đông Du, Tây Du,
cuộc khởi nghĩa Yên Bái, v.v. Mặc dù các phong trào đó sáng ngời tinh thần yêu
nước, bất khuất, nhưng đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Cũng chính
thời gian này, hàng loạt tổ chức đảng phái chính trị ra đời, như: Hội Phục Việt
(năm 1925), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927),... với nhiều cương lĩnh
chính trị khác nhau, nhằm chiếm lĩnh vũ đài lịch sử, nhưng tất cả những ngọn cờ
này đều nhanh chóng bị hạ xuống ngoài ý muốn của họ. Tại sao vậy? Bởi, các ngọn
cờ đã nêu không phù hợp với xu thế thời đại, không thỏa mãn được lợi ích và
nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc. Chỉ đến khi ĐCS Việt Nam ra đời, với
đường lối cứu nước đúng đắn, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Đảng
đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước, đánh dấu sự kết thúc
thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Vậy là, lịch sử
cách mạng Việt Nam đã trao trọng trách lãnh đạo đất nước cho Đảng ta, sau khi
đã khảo nghiệm một cách khắt khe những phương án chính trị của các giai cấp
đương thời, chứ đâu phải là “tiếm quyền” như sự xuyên tạc của những kẻ cơ hội.
Đảng ta xứng đáng được lịch sử giao trọng trách vinh quang đó, bởi Đảng ta là
“đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”1. Đó là điều mà không
một đảng phái nào khác trong lịch sử Việt Nam, ngoài ĐCS Việt Nam, có thể gánh
vác nổi. Thực tiễn 85 năm qua minh chứng rằng, dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam
và lãnh tụ Hồ Chí Minh, “Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở
thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta
từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất
nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh
CNH,HĐH”2. Việc nước ta trở thành thành viên chính thức của WTO; là
Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009;
Ủy viên Hội đồng Nhân quyền thế giới hiện nay; Tổng thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013
- 2017; hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước
đến một số nước Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, Va-ti-can,… theo lời
mời của nguyên thủ các nước này với những nghi thức chào đón trọng thị, đã
khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam và ĐCS Việt Nam trên
trường quốc tế. Mấy năm gần đây, trước tác động của tình trạng suy thoái kinh
tế thế giới, trong khi nhiều nước không giữ được sự ổn định, thì tình hình kinh
tế - xã hội Việt Nam vẫn là một điểm sáng của khu vực và thế giới. Riêng trong
năm 2014, hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại vẫn đạt được những kết quả tích cực: tăng trưởng 5,98%;
lạm phát 4,09%; xuất khẩu tăng 13,6% với kim ngạch đạt kỷ lục hơn 150 tỷ USD;
tổng thu ngân sách nhà nước vượt 4%; hộ nghèo giảm còn gần 6%; “đời sống nhân
dân tiếp tục được cải thiện; chủ quyền quốc gia được bảo đảm; chính trị xã hội
ổn định; vị thế quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng lên”3. Điều
đáng mừng là niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư của
nước ta tiếp tục được giữ vững. Vốn FDI thực hiện cả năm 2014 vẫn tăng 7,4%, số
dự án cấp mới tăng 24,5%, số lượt dự án tăng vốn tăng 25,8% so với năm trước.
Xu hướng được dự báo là các nhà đầu tư lớn trên thế giới sẽ dịch chuyển về Việt
Nam để đón đầu cơ hội triển khai các hiệp định tự do thương mại (FTA) mà Việt
Nam đã, hoặc sẽ hoàn thành đàm phán trong năm 2015. Những thành tựu đó đều gắn
liền với sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam và là minh chứng thuyết phục về năng lực
lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập.
Chân lý
Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015
Những kiến nghị không hợp lòng dân!
Những kiến nghị không hợp lòng dân!
Gần đây tôi có đọc một số bài đăng
blogger cá nhân, một số người kiến nghị với Đảng ta từ bỏ con đường xây dựng
CNXH, chuyển sang đường lối dân tộc và dân tộc chủ nghĩa. Kiến nghị đòi đa nguyên chính trị, đa đảng
đối lập. Trước hết, với tư cách cá nhân khẳng định rằng con đường tiến lên xây
dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, là nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Bởi vì, năm 1930 trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng đã khẳng định con
đường này, nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân theo Đảng
hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thứ hai, thành tựu Đảng ta lãnh đạo dân
tộc đạt được như ngày hôm nay là rất to lớn: Đánh thắng các thế lực xâm lược
lớn mạnh, bị cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao, nhưng Đảng đã kiên trì
Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ
quốc tế, buộc Mỹ phải bãi bỏ cấm vận kinh tế, bình thường hóa qua hệ với Việt
Nam. Như vậy, Đảng ta lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, đánh
thắng 2 cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ (1945-1975); cuộc chiến tranh
biên giới tây nam 1978, phía bắc năm 1979, xây dựng đất nước đạt được thành tựu
to lớn về mọi mặt. To lớn thể hiện là chúng ta xây dựng đất nước thuận tiện mới
chỉ có từ năm 1995 (sau khi Mỹ bãi bỏ cấm vận), chưa đầy 20 năm, mà thành tựu
đạt được như vậy phải là kỳ tích. Nếu như đất nước không bị xâm lược mà Đảng
lãnh đạo có hàng trăm năm hòa bình để xây dựng đất nước thì thành tựu chắc chắn
to lớn hơn nhiều. Vậy, làm gì phải từ bỏ con đường XHCN, làm gì phải đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập. Một minh chứng còn sống động như nước Ucraina sau
khi tách khỏi Liên bang Xô Viết năm 1991, từ bỏ thể chế XHCN, theo con đường
trung lập, thực hiện đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị, nhưng đến nay đất nước khủng hoảng triền miên, lạm phát tăng cao,
xung đột phe phái, nhân dân khổ cực,…điều đó nói nên rằng không phải đa đảng là
tốt. Bởi vậy, thay vì kêu gọi thành lập đảng phái đối lập với Đảng
Cộng sản để được dân chủ hơn, tôi nghĩ các người nên hành động cụ thể,
thiết thực, nghiên cứu đề xuất những ý kiến hay hợp lòng dân ý Đảng để hiện
thực hóa mục tiêu mà Đảng đã đề ra, vì lợi ích dân tộc và nhân dân thì tốt hơn.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)