Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ



QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
Như chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhaụ Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1- Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; 2- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3- Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).
Như vậy, Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai, khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hộị
Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: Bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học-kỹ thuật v.v..
Đồng thời, việc nhận thức và giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử, cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Trước đây khi phân tích so sánh về đấu tranh giai cấp ở các nước phương Tây và phương Đông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng ở phương Tây, đấu tranh giai cấp rất quyết liệt, còn ở phương Đông, những nước như "Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây"(2). Đối với Việt Nam cũng vậy, vì Việt Nam vốn là một xã hội phương Đông cổ truyền, nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, yêu cầu đoàn kết dân tộc nổi lên hàng đầu để tập hợp các lực lượng, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội nhằm thực hiện nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng"(3).
Ở đây không được phép lẫn lộn quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với quan điểm hữu khuynh phủ nhận đấu tranh giai cấp hoặc quan điểm tả khuynh cường điệu đấu tranh giai cấp, thiên về trấn áp bạo lực, hoặc mượn danh đấu tranh giai cấp để đấu tố trấn áp những người không ăn cánh, không theo đường lối của mình, có tính chất bè phái như đã từng xảy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đâỵ
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" thay cho khái niệm "hệ thống chuyên chính vô sản". Từ đó về sau, trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh 2011, trong các văn kiện từ Đại hội VII đến Đại hội XI ít sử dụng thuật ngữ "chuyên chính vô sản". Đây là một bước tiến của nhận thức, phù hợp hơn với điều kiện tình hình mớị
Về đấu tranh giai cấp, Đại hội IX của Đảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiềụ Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực thiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
Đại hội IX cũng xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế toàn xã hộị
Như vậy, Đảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mớị
(1). C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 28, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.661-662.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, 2011, tr.508, 509.
(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, HN, Nxb CTQG, 2011, tr.312.
                                                                                              Chân lý
Gần đây tôi có đọc một số bài đăng blogger cá nhân, một số người kiến nghị với Đảng ta từ bỏ con đường xây dựng CNXH, chuyển sang đường lối dân tộc và dân tộc chủ nghĩa. Kiến nghị đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trước hết, với tư cách cá nhân khẳng định rằng con đường tiến lên xây dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, là nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vì, năm 1930 trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng đã khẳng định con đường này, nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân theo Đảng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thứ hai, thành tựu Đảng ta lãnh đạo dân tộc đạt được như ngày hôm nay là rất to lớn: Đánh thắng các thế lực xâm lược lớn mạnh, bị cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao, nhưng Đảng đã kiên trì Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế, buộc Mỹ phải bãi bỏ cấm vận kinh tế, bình thường hóa qua hệ với Việt Nam. Như vậy, Đảng ta lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, đánh thắng 2 cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ (1945-1975); cuộc chiến tranh biên giới tây nam 1978, phía bắc năm 1979, xây dựng đất nước đạt được thành tựu to lớn về mọi mặt. To lớn thể hiện là chúng ta xây dựng đất nước thuận tiện mới chỉ có từ năm 1995 (sau khi Mỹ bãi bỏ cấm vận), chưa đầy 20 năm, mà thành tựu đạt được như vậy phải là kỳ tích. Nếu như đất nước không bị xâm lược mà Đảng lãnh đạo có hàng trăm năm hòa bình để xây dựng đất nước thì thành tựu chắc chắn to lớn hơn nhiều. Vậy, làm gì phải từ bỏ con đường XHCN, làm gì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Một minh chứng còn sống động như nước Ucraina sau khi tách khỏi Liên bang Xô Viết năm 1991, từ bỏ thể chế XHCN, theo con đường trung lập nhưng đến nay đất nước khủng hoảng triền miên, lạm phát tăng cao, xung đột phe phái, nhân dân khổ cực,…điều đó nói nên rằng không phải đa đảng là tốt. Bởi vậy, thay vì kêu gọi thành lập đảng phái đối lập với Đảng Cộng sản để được dân chủ hơn, tôi nghĩ các người nên hành động cụ thể, thiết thực, nghiên cứu đề xuất những ý kiến hay hợp lòng dân ý Đảng để hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng đã đề ra, vì lợi ích dân tộc và nhân dân thì tốt hơn.

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Không thể phủ nhận thành tựu lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.



Không thể phủ nhận thành tựu lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Lịch sử luôn khách quan, là hiện thực sống động nhất bác bỏ mọi sự xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng. Điểm lại lịch sử cách mạng nước ta từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy rõ: trước khi ĐCS Việt Nam ra đời, không cam chịu ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân cả nước đã liên tục vùng lên đấu tranh dưới các ngọn cờ lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong kiến, hay lập trường nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Đó là các phong trào: Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế, cuộc vận động Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, các phong trào Đông Du, Tây Du, cuộc khởi nghĩa Yên Bái, v.v. Mặc dù các phong trào đó sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, nhưng đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Cũng chính thời gian này, hàng loạt tổ chức đảng phái chính trị ra đời, như: Hội Phục Việt (năm 1925), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927),... với nhiều cương lĩnh chính trị khác nhau, nhằm chiếm lĩnh vũ đài lịch sử, nhưng tất cả những ngọn cờ này đều nhanh chóng bị hạ xuống ngoài ý muốn của họ. Tại sao vậy? Bởi, các ngọn cờ đã nêu không phù hợp với xu thế thời đại, không thỏa mãn được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc. Chỉ đến khi ĐCS Việt Nam ra đời, với đường lối cứu nước đúng đắn, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Đảng đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước, đánh dấu sự kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Vậy là, lịch sử cách mạng Việt Nam đã trao trọng trách lãnh đạo đất nước cho Đảng ta, sau khi đã khảo nghiệm một cách khắt khe những phương án chính trị của các giai cấp đương thời, chứ đâu phải là “tiếm quyền” như sự xuyên tạc của những kẻ cơ hội. Đảng ta xứng đáng được lịch sử giao trọng trách vinh quang đó, bởi Đảng ta là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”1. Đó là điều mà không một đảng phái nào khác trong lịch sử Việt Nam, ngoài ĐCS Việt Nam, có thể gánh vác nổi. Thực tiễn 85 năm qua minh chứng rằng, dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, “Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh CNH,HĐH”2. Việc nước ta trở thành thành viên chính thức của WTO; là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền thế giới hiện nay; Tổng thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013 - 2017; hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đến một số nước Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, Va-ti-can,… theo lời mời của nguyên thủ các nước này với những nghi thức chào đón trọng thị, đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam và ĐCS Việt Nam trên trường quốc tế. Mấy năm gần đây, trước tác động của tình trạng suy thoái kinh tế thế giới, trong khi nhiều nước không giữ được sự ổn định, thì tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam vẫn là một điểm sáng của khu vực và thế giới. Riêng trong năm 2014, hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại vẫn đạt được những kết quả tích cực: tăng trưởng 5,98%; lạm phát 4,09%; xuất khẩu tăng 13,6% với kim ngạch đạt kỷ lục hơn 150 tỷ USD; tổng thu ngân sách nhà nước vượt 4%; hộ nghèo giảm còn gần 6%; “đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; chủ quyền quốc gia được bảo đảm; chính trị xã hội ổn định; vị thế quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng lên”3. Điều đáng mừng là niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư của nước ta tiếp tục được giữ vững. Vốn FDI thực hiện cả năm 2014 vẫn tăng 7,4%, số dự án cấp mới tăng 24,5%, số lượt dự án tăng vốn tăng 25,8% so với năm trước. Xu hướng được dự báo là các nhà đầu tư lớn trên thế giới sẽ dịch chuyển về Việt Nam để đón đầu cơ hội triển khai các hiệp định tự do thương mại (FTA) mà Việt Nam đã, hoặc sẽ hoàn thành đàm phán trong năm 2015. Những thành tựu đó đều gắn liền với sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam và là minh chứng thuyết phục về năng lực lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập.
                                                                                               Chân lý